Tổng Quan Về Bệnh Dại Và Tình Hình Dịch Tễ Tại Việt Nam

Tổng Quan Về Bệnh Dại Và Tình Hình Dịch Tễ Tại Việt Nam

  1. Tổng quan về bệnh dại

Bệnh dại là một bệnh truyền nhiễm do virus dại gây ra, được ghi nhận từ khoảng 3000 năm trước và có thể xảy ra ở tất cả các loài động vật máu nóng. Đây là bệnh lý ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương, gây viêm não tủy cấp tính và hầu hết dẫn đến tử vong khi các triệu chứng lâm sàng đã xuất hiện. 

Trong khoảng 99% trường hợp, chó nhà là nguồn lây truyền virus dại sang người. Tuy nhiên, virus dại cũng có thể xuất hiện ở nhiều loài động vật nuôi và động vật hoang dã. Virus dại lây truyền sang người chủ yếu thông qua vết cắn, vết xước hoặc tiếp xúc trực tiếp nước bọt từ động vật nhiễm virus dại với vết thương hở, niêm mạc ở mắt, mũi, miệng [1].

1.1. Tác nhân gây bệnh

Virus dại thuộc chi Lyssavirus, họ Rhabdoviridae, nhóm Baltimore V, có bộ gen RNA sợi đơn và lớp vỏ lipid bao quanh. Virus có sức đề kháng kém trong môi trường, dễ bị bất hoạt bởi nhiệt độ cao và các chất hòa tan lipid như xà phòng, ether, chloroform và acetone. Ngoài ra, virus cũng nhạy cảm với tia cực tím và bị bất hoạt nhanh trong dung dịch cồn hoặc iod [2].

1.2. Nguồn bệnh, thời gian ủ bệnh và chẩn đoán

Nguồn bệnh

    • Các loài động vật có vú máu nóng như chó, mèo, cáo, chồn, cầy hương và một số loài hoang dã khác là ổ chứa tự nhiên của virus dại.
    • Tại châu Mỹ và châu Âu, virus dại còn được ghi nhận ở dơi.
    • Ở Việt Nam, chó là nguồn lây truyền chính sang người.

Thời gian ủ bệnh của bệnh dại khác nhau giữa các trường hợp. Thông thường, thời gian này dao động từ 1–3 tháng, tuy nhiên trong một số trường hợp hiếm có thể ngắn tới 9 ngày hoặc kéo dài nhiều năm.

Khoảng thời gian từ khi phơi nhiễm đến khi khởi phát triệu chứng phụ thuộc chủ yếu vào vị trí vết cắn và quãng đường virus di chuyển dọc theo các dây thần kinh để đến hệ thần kinh trung ương. Các vết cắn ở vùng đầu, mặt hoặc cổ thường làm xuất hiện triệu chứng sớm hơn so với vết cắn ở tứ chi.

Ngoài ra, thời gian ủ bệnh còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác, bao gồm:

    • Vị trí vết cắn (càng gần hệ thần kinh trung ương, thời gian càng ngắn)
    • Mức độ nghiêm trọng của vết thương
    • Số lượng virus xâm nhập
    • Khoảng cách từ vị trí phơi nhiễm đến não

Ở người lớn, thời gian ủ bệnh thường có xu hướng kéo dài hơn do đáp ứng miễn dịch có thể làm chậm sự nhân lên và lan truyền của virus. Ngược lại, ở trẻ em, thời gian ủ bệnh thường ngắn hơn do hệ miễn dịch chưa hoàn thiện và kích thước cơ thể nhỏ hơn, tạo điều kiện cho virus tiếp cận hệ thần kinh trung ương nhanh hơn [3].

Chẩn đoán bệnh dại ở người chủ yếu dựa trên biểu hiện lâm sàng đặc trưng kết hợp với tiền sử phơi nhiễm với động vật nghi mắc bệnh dại. Một số kỹ thuật xét nghiệm có thể được sử dụng để hỗ trợ chẩn đoán, bao gồm:

    • Phản ứng kháng thể huỳnh quang trực tiếp (FAT)
    • Phản ứng chuỗi polymerase phiên mã ngược (RT-PCR)
    • Xét nghiệm phát hiện kháng thể bằng phương pháp ELISA
  1. Tình hình bệnh dại tại Việt Nam hiện nay

Tại Việt Nam, bệnh dại vẫn là một thách thức đáng kể đối với y tế, gây ra hàng trăm ca tử vong hằng năm. Mặc dù bệnh có thể phòng ngừa hiệu quả bằng vaccine, tỷ lệ tử vong vẫn duy trì ở mức cao do nhiều yếu tố như tỷ lệ tiêm phòng cho động vật còn thấp, nhận thức của người dân về xử trí sau phơi nhiễm (PEP) còn hạn chế và công tác quản lý chó chưa hiệu quả.

Bệnh dại đã lưu hành tại Việt Nam trong nhiều thập kỷ và được ghi nhận từ năm 1974. Tuy nhiên, dữ liệu về bệnh dại trước năm 1990 còn hạn chế do chưa có hệ thống giám sát, điều tra và báo cáo đầy đủ. 

Theo các báo cáo giám sát của Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương, các trường hợp tử vong do bệnh dại ở người vẫn được ghi nhận liên tục trong hơn 25 năm qua và luôn nằm trong nhóm các bệnh truyền nhiễm có tỷ lệ tử vong cao tại Việt Nam.

Giai đoạn

Tình hình ghi nhận

1991–1995

Trung bình ghi nhận khoảng 400 ca tử vong do bệnh dại mỗi năm. Số ca tử vong cao gấp 8 lần viêm não và gấp 4 lần sốt xuất huyết. Tại một số thời điểm, một tỉnh ghi nhận tới 131 ca tử vong do bệnh dại mỗi năm.

1996–2007

Số ca tử vong giảm còn trung bình khoảng 107 ca/năm, giảm 293 ca so với giai đoạn 1991–1995. Đến năm 2007, cả nước có 936 cơ sở y tế triển khai tiêm phòng dại.

2003

Ghi nhận chỉ còn 34 trường hợp tử vong do bệnh dại trên toàn quốc.

2011–2015

Trung bình ghi nhận khoảng 95 ca tử vong mỗi năm. Khoảng 380.000 người bị chó cắn được tiêm dự phòng sau phơi nhiễm (PEP) hằng năm.

2015

Ghi nhận 78 ca tử vong, chủ yếu tập trung tại các tỉnh miền núi phía Bắc và khu vực Bắc Trung Bộ.

Bảng 2. Tình hình bệnh dại ở Việt Nam 1991-2015 [4]

Năm 2023, Việt Nam ghi nhận 82 trường hợp tử vong do bệnh dại ở người, tăng 12 ca so với năm 2022. Từ đầu năm 2024 đến ngày 21/6/2024, cả nước ghi nhận 49 ca tử vong do bệnh dại, tăng 25% so với cùng kỳ năm 2023 (38 ca), trong đó 12 trường hợp được báo cáo tại khu vực miền Trung [5]. Đáng chú ý, những tháng đầu năm 2024, nhiều vụ chó tấn công người đã được ghi nhận trên phạm vi cả nước, đặc biệt các thành phố. Các trường hợp mắc bệnh dại được ghi nhận đều tử vong [6]. Theo báo cáo của Bộ Y tế, tính đến tháng 5/2024, cả nước ghi nhận 102 ổ dịch bệnh dại tại 29 tỉnh, thành phố với 44 trường hợp tử vong, tăng khoảng 30% so với cùng kỳ năm 2023 [7].

Phân tích các trường hợp được tiêm dự phòng sau phơi nhiễm gần đây cho thấy:

    • 89,2% liên quan đến chó nhà cắn
    • 8,7% liên quan đến mèo cắn
    • 1,6% do tiếp xúc với chó nhưng không bị cắn
    • 0,5% liên quan đến các động vật khác như chuột, khỉ

Đặc điểm dịch tễ học

Bệnh dại xảy ra quanh năm nhưng có xu hướng gia tăng vào mùa nóng (từ tháng 5 đến tháng 9),  số ca mắc cao nhất thường được ghi nhận vào tháng 8 và tháng 9. Trẻ em dưới 15 tuổi chiếm hơn 40% tổng số trường hợp mắc bệnh. Khoảng 98% trường hợp tử vong liên quan đến việc không được tiêm phòng sau khi bị chó nhà cắn hoặc sau khi tiếp xúc với chó mang virus dại. Các trường hợp còn lại chủ yếu liên quan đến mèo. Đến nay, chưa ghi nhận trường hợp mắc bệnh dại ở người do động vật hoang dã gây ra tại Việt Nam.

Tài liệu tham khảo

[1] Rabies in Viet Nam. World Health Organization.

[2] Programmes for the eradication, control and monitoring of certain animal diseases and zoonoses (2014). Health and consumers directorate.

[3] Increasing recorded incidence of the “zombie disease” Rabies, in Việt Nam. Family medical practice Viet Nam.

[4] National program for rabies control and elimination in Viet Nam in the period from 2017 to 2021 (2021, December). Ministry of Agriculture and Rural development – Ministry of Health.

[5] Local agencies, organizations, or institutions to implement capacity building activities on rabies disease prevention and control in Viet Nam. (2024, August 7). United Nations Viet Nam

[6] Ho Chi Minh City urgently responds to rabies amid fatality spike. (2024, September 24).  Tuổi Trẻ News.

[7]  Nguyen Khoi Quan, Andrew W. Taylor-Robinson, (2024, September). Combatting rabies outbreaks in Vietnam: High time to enforce restrictions on dog meat farming, a key source of transmission.

Sương Sương