Viêm gan
Viêm gan là tình trạng các tế bào gan bị viêm nhiễm do virus và các yếu tố không lây nhiễm như sử dụng rượu quá mức, thuốc, các chất độc hay bệnh tự miễn. Trong các tác nhân gây bệnh, virus được coi là nguyên nhân chủ yếu, trong đó phổ biến là 3 loại virus viêm gan A, B, C; ít gặp hơn là virus viêm gan D và E. Ngoài ra, virus viêm gan G, một loại pegivirus ở người, cũng được tìm thấy ở những người mắc virus viêm gan B và C, tuy vậy, vẫn chưa có bằng chứng xác định nó là tác nhân gây viêm gan. Con đường lây truyền chính đối với virus viêm gan A và E là đường phân-miệng khi tiếp xúc với thực phẩm, nước hay vật dụng nhiễm phân của người mang virus, đôi khi virus viêm gan E có thể lây từ mẹ sang con nhưng tỉ lệ rất hiếm. Trong khi đó, virus viêm gan B có khả năng phát tán cao hơn trong cộng đồng với ba đường lây nhiễm chính là đường máu, đường tình dục và lây truyền từ mẹ sang con. Virus viêm gan C và D cũng có đường lây nhiễm tương tự viêm gan B, tuy vậy đường tình dục và lây từ mẹ sang con ít phổ biến hơn [1]. Theo báo cáo của WHO, viêm gan là nguyên nhân gây tử vong cao thứ hai trong số các bệnh truyền nhiễm. Ước tính mỗi ngày có khoảng 3500 người tử vong vì viêm gan do virus, trong đó virus viêm gan B và C chiếm đến 90% số ca [2].
Viêm gan mạn tính
Khái niệm, nguyên nhân và các nguy cơ
Căn cứ theo thời gian bị viêm hoặc tổn thương gan, viêm gan có thể được chia ra thành 2 loại: cấp tính và mạn tính. Nếu thời gian tổn thương tế bào gan kéo dài dưới 6 tháng thì được gọi là viêm gan cấp tính. Các nguyên nhân gây ra viêm gan cấp tính rất đa dạng, trong đó virus viêm gan A và E là hai nguyên nhân phổ biến nhất. Viêm gan cấp tính thường có diễn biến tự khỏi sau 2-4 tuần với một số các điều trị hỗ trợ, tuy vậy bệnh có thể tiến triển thành viêm gan mạn tính, hoặc gây nên biến chứng nguy hiểm nhưng hiếm gặp hơn là suy gan cấp tính [3].
Ngược lại, viêm gan mạn tính xảy ra khi thời gian viêm nhiễm của các tế bào gan kéo dài trên 6 tháng. Ở một số nhóm người, tình trạng viêm kéo dài nhiều năm, thậm chí nhiều thập kỷ, có thể gây nên tổn thương nghiêm trọng ở gan, dẫn đến xơ gan, suy gan và nguy hiểm nhất là ung thư gan. Virus viêm gan B và C là 2 tác nhân chính gây viêm gan mạn tính, ngoài ra còn có các yếu tố không lây truyền như gan nhiễm mỡ, các bệnh về gan liên quan đến rượu hay viêm gan tự miễn [4]. Theo báo cáo của WHO, một nửa số ca mắc viêm gan mạn tính B và C nằm trong độ tuổi 30 – 54, trong khi đó 58% ca bệnh là nam giới và 12% là trẻ em [2]. Virus viêm gan C chiếm đến 60-70% các ca bệnh mạn tính và trên dưới 30% số này phát triển thành xơ gan và nguy cơ cao mắc ung thư. Thống kê cho thấy có ít nhất 75% các trường hợp viêm gan C cấp tính chuyển biến thành mạn tính. Đối với virus viêm gan B, theo ước tính, có khoảng 5% dân số trên thế giới đang mang virus trong cơ thể và xấp xỉ 10-30% trong số này tiến triển thành viêm gan mạn tính. Các số liệu cũng chỉ ra khoảng 20% bệnh nhân viêm gan mạn tính B có thể phát triển thành xơ gan và suy gan, trong khi có 5% ca chuyển biến thành ung thư biểu mô tế bào gan. Virus viêm gan D chỉ có khả năng đồng nhiễm với virus viêm gan B. Tuy các triệu chứng tương tự nhau nhưng những người cùng lúc nhiễm viêm gan B mạn tính và viêm gan D có xu hướng tiến triển thành suy gan và xơ gan nhanh hơn. Ở một số trường hợp hiếm gặp, virus viêm gan E có thể gây viêm gan mạn tính ở những bệnh nhân bị suy giảm hệ miễn dịch do dùng thuốc ức chế hoặc nhiễm HIV, trong khi đó, tổn thương và viêm nhiễm do viêm gan A cấp tính không dẫn đến viêm gan mạn tính. Bên cạnh tác nhân virus, viêm gan mạn tính còn xảy ra ở những người béo phì hoặc sử dụng quá nhiều rượu trong thời gian kéo dài, gây nên dư thừa cholesteron, các acid béo và các chất độc hại trong gan. Tình trạng này kéo dài có thể làm viêm gan lan rộng, gây chết tế bào gan và dẫn đến xơ gan [1,4].
Triệu chứng, chẩn đoán và điều trị
Viêm gan mạn tính thường gây ra các triệu chứng chung như cảm giác khó chịu, mệt mỏi, chán ăn, đôi khi sốt nhẹ và đau vùng bụng trên. Hiện tượng vàng da cực kì hiếm gặp, trừ khi bị suy gan. Ở khoảng 2/3 số ca bệnh, viêm gan mạn tính phát triển dần dần mà không có triệu chứng, và khó được phát hiện cho đến khi xơ gan phát triển. Trong trường hợp viêm gan mạn tính do bệnh tự miễn, có thể có một số triệu chứng khác như ngừng kinh nguyệt, đau và sưng khớp, chán ăn, kèm theo các rối loạn tự miễn khác như đái tháo đường tuýt 1, viêm loét đại tràng, thiếu máu hoặc viêm tuyến giáp…
Việc chẩn đoán viêm gan mạn tính có thể dựa vào các triệu chứng điển hình, xét nghiệm máu và tiền sử viêm gan cấp tính của bệnh nhân. Sinh thiết gan cũng được thực hiện để xác nhận lại chẩn đoán đồng thời giúp bác sĩ tìm được nguyên nhân gây viêm gan và theo dõi tình trạng xơ hóa của gan.
Viêm gan mạn tính sẽ được tập trung vào điều trị nguyên nhân và các triệu chứng. Với viêm gan mạn tính B, mục tiêu điều trị chính là ức chế sự nhân lên của virus bằng các loại thuốc kháng virus, tiếp đó là liệu pháp giảm triệu chứng và ngăn ngừa việc phát triển thành xơ gan hoặc ung thư tế bào biểu mô gan. Không có thuốc chữa khỏi hoàn toàn viêm gan B, do vậy ở một số nhóm người có nguy cơ tái phát cần dùng thuốc kháng virus vô thời hạn. Trong khi đó, việc điều trị viêm gan mạn tính C bằng các liệu pháp kháng virus có thể giúp loại bỏ hoàn toàn virus khỏi cơ thể, đồng thời giảm nguy cơ phát triển viêm, xơ gan và ung thư gan do nhiều nguyên nhân khác. Đối với viêm gan mạn tính gây ra bởi gan nhiễm mỡ hay bệnh gan liên quan đến rượu, bên cạnh việc dùng thuốc điều trị, chế độ ăn uống và lối sống cũng được tập trung thay đổi như kiểm soát cân nặng, ăn uống lành mạnh và dừng các loại thuốc có thể gây độc hại cho gan [1,4].
Tình hình viêm gan mạn tính B tại Việt Nam
Viêm gan mạn tính B vẫn là một thách thức đối với sức khỏe toàn cầu. Theo thống kê của WHO, ước tính có khoảng 254 triệu người chịu ảnh hưởng bởi viêm gan B mạn tính, dẫn đến cái chết của hơn 1,1 triệu người vào năm 2022. Khu vực Châu Phi và Tây Thái Bình Dương chiếm đến 65% các ca nhiễm viêm gan mạn tính, trong đó phần lớn là do lây truyền từ mẹ sang con và lây truyền ngang trong các nhóm trẻ sơ sinh. Mặc dù vắc-xin viêm gan B hiệu quả trong việc giảm các ca nhiễm mới nhưng tỷ lệ lưu hành chung của virus vẫn không giảm đáng kể. Các số liệu cho thấy chỉ có khoảng 13% số người mắc viêm gan mạn tính B được chẩn đoán và chưa đến 3% được tiếp nhận điều trị bằng thuốc kháng virus, thêm vào đó tỷ lệ tiêm vắc-xin đầy đủ ở trẻ sơ sinh vẫn thấp chỉ khoảng 45% [2,5].
Theo báo cáo vào năm 2022, Việt Nam được WHO xếp vào nhóm 38 quốc gia trọng tâm, chiếm đến 80% số ca bị ảnh hưởng và tử vong do viêm gan trên toàn thế giới, đồng thời là một trong 10 nước chiếm đến 2/3 gánh nặng do viêm gan B và C. Việt Nam thuộc khu vực Tây Thái Bình Dương, nơi có tỷ lệ viêm gan mạn tính B trong dân số xấp xỉ 5%, đứng thứ 2 thế giới, chỉ sau khu vực Châu Phi. Tỷ lệ nhiễm viêm gan mạn tính B tại Việt Nam, theo Bộ Y tế ước tính, dao động từ 8-25% dân số. Vào năm 2017, Tổ chức Y tế thế giới thống kê được gần 7,7 triệu ca nhiễm ( chiếm 8,1% ), con số này đến năm 2019 là 6,6% và mới nhất vào năm 2022, số ca nhiễm là hơn 6,5 triệu ca tương đương với tỷ lệ 7,2% trong dân số và chiếm 2,6% số ca nhiễm toàn cầu [2,6,7,8]. Các số liệu thống kê của Cục Y tế dự phòng chỉ ra rằng viêm gan B là tăng nguy cơ phát triển ung thư biểu mô tế bào gan gấp 100 lần và khoảng 70% các ca ung thư là do virus viêm gan B gây ra. Mỗi năm có khoảng 0,5% số người nhiễm viêm gan mạn tính B chuyển biến thành ung thư gan [9]. Năm 2022, số ca tử vong liên quan đến viêm gan B được ghi nhận là hơn 26 nghìn người, trong khi đó, tỷ lệ nhiễm virus được chẩn đoán là 41,7% và chỉ có 1,4% số người mắc được tiếp cận điều trị [2]. Có thể thấy do phần lớn viêm gan không có nhiều triệu chứng rõ ràng, việc sàng lọc sớm virus thường bị bỏ qua cũng như khó khăn trong việc tiếp cận điều trị đã khiến viêm gan mạn tính B vẫn là gánh nặng y tế lớn tại Việt Nam với các con số đáng báo động đã chỉ ra ở trên. Tuy vậy, căn bệnh này có thể được phòng tránh bằng việc tiêm vắc xin cho trẻ từ sớm. Theo các nghiên cứu, trẻ sơ sinh có 70-90% nguy cơ lây nhiễm virus từ người mẹ dương tính với HBeAg, và trên 90% số trẻ này sẽ phát triển thành viêm gan mạn tính B [1]. Một trong những điểm sáng trong chiến lược chống lại viêm gan mạn tính B của Việt Nam là việc bao phủ vắc xin đang được triển khai tốt. Tỷ lệ tiêm vắc-xin cho trẻ sơ sinh trong 24h đầu đạt 77% và với trẻ tiêm mũi thứ 3 cũng đạt 91%. Việc đưa vắc-xin vào trong chương trình tiêm chủng quốc gia, tăng cường xét nghiệm sàng lọc cũng như điều trị virus viêm gan với sự hỗ trợ của WHO, sẽ là những bước quan trọng trong chiến lược quốc gia của Việt Nam nhằm sớm loại bỏ viêm gan B vào năm 2030 [2].
Tài liệu tham khảo
-
- Lafaine M. Grant, Melanie Purres. Viral Hepatitis. Treasure Island (FL): StatPearls Publishing. March 10, 2024. Available from: https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK554549/.
- World Health Organization. Global Hepatitis Report 2024. [Internet]. 2024. Available from: https://www.who.int/publications/b/68511
- Timothy J. Schaefer; Savio John. Acute Hepatitis(Archived). Treasure Island (FL): StatPearls Publishing. July 10, 2023. Available from: https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK551570/.
- Sonal Kumar, MD, MPH, Weill Cornell Medical College. Overview of Chronic Hepatitis. MSD Manuals. Jul 2024. Available from: https://www.msdmanuals.com/home/liver-and-gallbladder-disorders/hepatitis/overview-of-chronic-hepatitis.
- Sudheer Marrapu , Ramesh Kumar. Chronic hepatitis B: Prevent, diagnose, and treat before the point of no return. World J Hepatol. 2024 Oct 27;16(10):1151–1157. Available from: https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC11514616/.
- Barnaby Flower, Duc Du Hong, Hang Vu Thi Kim, Khue Pham Minh, Ronald B Geskus, Jeremy Day, et al. Seroprevalence of Hepatitis B, C and D in Vietnam: A systematic review and meta-analysis. The Lancet, Volume 24, 100468. July 2022. Available from: https://www.thelancet.com/journals/lanwpc/article/PIIS2666-6065(22)00083-9/fulltext
- The Coalition for Global Hepatitis Elimination. [Internet]. Available from: https://www.globalhep.org/data-profiles/countries/viet-nam.
- World Health Organization. [Internet]. Available from: https://www.who.int/data/gho/data/indicators/indicator-details/GHO/hepatitis—number-of-persons-living-with-chronic-hepatitis
- Ministry of Health Portal. Việt Nam một trong số các quốc gia có tỷ lệ người nhiễm viêm gan B hoạt động và thụ động cao nhất thế giới. [Internet]. 2019. Available from: https://moh.gov.vn/chuong-trinh-muc-tieu-quoc-gia/-/asset_publisher/7ng11fEWgASC/content/viet-nam-mot-trong-so-cac-quoc-gia-co-ty-le-nguoi-nhiem-viem-gan-b-hoat-ong-va-thu-ong-cao-nhat-the-gioi?inheritRedirect=false
Thảo My

