Long COVID: Khi virus đã biến mất nhưng cơ thể bạn thì ...

Long COVID: Khi virus đã biến mất nhưng cơ thể bạn thì chưa hồi phục

1. Định nghĩa

COVID kéo dài (Long COVID) là tình trạng các triệu chứng không rõ nguyên nhân và kéo dài sau khoảng 3 tháng kể từ khi nhiễm virus SARS-COV-2 và kéo dài khoảng 2 tháng mà không có nguyên nhân khác[1]. Tỷ lệ mắc và biểu hiện của bệnh rất khác nhau, chịu ảnh hưởng bởi các biến thể virus, lịch sử tiêm chủng, tái nhiễm và các yếu tố kinh tế xã hội. Theo nghiên cứu, có ít nhất 65 triệu người trên toàn thế giới mắc COVID kéo dài, dựa trên ước tính tỷ lệ mắc bệnh thận trọng là 10% số người nhiễm bệnh và hơn 651 triệu trường hợp COVID được ghi nhận trên toàn thế giới; con số này có thể cao hơn nhiều do nhiều trường hợp không được ghi nhận. Tỷ lệ mắc bệnh được ước tính là 10–30% ở các trường hợp không nhập viện, 50–70% ở các trường hợp nhập viện và 10–12% ở các trường hợp đã tiêm phòng[2]. Hội chứng COVID kéo dài có thể ảnh hưởng đến khả năng thực hiện các hoạt động hàng ngày như công việc hoặc việc nhà và hạn chế sự tham gia xã hội của người bệnh[7].

Hiện chưa có phương pháp điều trị dứt điểm, và cách quản lý hiện tại vẫn chỉ tập trung vào điều trị triệu chứng và phục hồi chức năng. Tuy nhiên, tiêm phòng làm giảm nguy cơ mắc COVID kéo dài, và các liệu pháp mới nổi chẳng hạn như thuốc kháng virus, thuốc điều hòa miễn dịch, phương pháp điều trị nhắm vào hệ vi sinh vật và can thiệp vào ty thể hiện đang được nghiên cứu [6].

2. Các yếu tố rủi ro

Các yếu tố dẫn đến các triệu chứng kéo dài vẫn chưa được rõ ràng có thể xuất hiện sớm hoặc vài tuần sau nhiễm do nhiều cơ chế khác nhau, với các triệu chứng có thể tăng giảm thất thường và đến nay chưa có kết luận chắc chắn. Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu về cơ chế vẫn đang ở giai đoạn đầu. Một số yếu tố nguy cơ được ghi nhận gồm nữ giới, tiểu đường type 2, có kháng thể tự miễn, rối loạn mô liên kết hoặc một số bệnh lý dị ứng – miễn dịch, cũng như điều kiện kinh tế xã hội thấp và không được nghỉ ngơi đầy đủ trong giai đoạn cấp tính. Dù vậy, khoảng một phần ba người mắc COVID kéo dài trước đó không có bệnh nền rõ ràng[2, 3, 8].

Bất kỳ ai bị nhiễm virus SARS-COV-2 đều có thể phát triển các triệu chứng COVID kéo dài. Các nghiên cứu dịch tễ học đã xác định một số yếu tố liên quan đến nguy cơ mắc COVID kéo dài cao hơn. Những người này bao gồm phụ nữ, người lớn tuổi, người hút thuốc, người thừa cân hoặc béo phì hoặc có các vấn đề sức khỏe mãn tính từ trước. 

Theo nghiên cứu, phụ nữ báo cáo tỷ lệ mệt mỏi và khó thở cao hơn sau khi nhiễm virus SARS-COV-2 so với nam giới. Béo phì là một yếu tố nguy cơ chính khác đối với cả COVID cấp tính và COVID kéo dài. Nó có thể thúc đẩy sự dai dẳng của các triệu chứng thông qua các cơ chế như viêm mãn tính và rối loạn chuyển hóa. Chỉ số BMI cao hơn và lượng mỡ bụng nhiều hơn có liên quan đến việc gia tăng các triệu chứng tim mạch và hô hấp. Ngược lại, vai trò của tuổi tác vẫn chưa rõ ràng[2].

3. Biểu hiện lâm sàng

 Những người vật lộn với hội chứng COVID kéo dài bao gồm một loạt các triệu chứng khác nhau trên nhiều hệ cơ quan. Một trong những triệu chứng nổi bật và gây suy nhược nhất là mệt mỏi thường kèm theo khó chịu sau khi gắng sức, các triệu chứng trở nặng hơn từ 12 đến 72 giờ sau khi gắng sức về thể chất hoặc tinh thần và có thể kéo dài trong nhiều ngày hoặc nhiều tuần. Tình trạng mệt mỏi này thường liên quan đến rối loạn giấc ngủ và rối loạn chức năng nhận thức, thường được mô tả là “sương mù não”, bao gồm suy giảm trí nhớ, khả năng tập trung, đau đầu, rối loạn giấc ngủ, lo âu và trầm cảm. Hệ tim mạch và hô hấp, xảy các bất thường về biến thiên nhịp tim, đặc biệt ở phụ nữ. Khó thở, khó chịu ở ngực và tức ngực có thể kéo dài. Ngoài ra các triệu chứng khác về đường tiêu hóa như khó nuốt, buồn nôn và rối loạn vị giác thường kèm theo sự dao động cân nặng cũng thường được ghi nhận[5].

Diễn biến lâm sàng của các triệu chứng rất khác nhau giữa các cá nhân. Các triệu chứng hô hấp thường thuyên giảm trong vòng hai đến ba tháng, trong khi mệt mỏi và các vấn đề về nhận thức có thể kéo dài sáu tháng hoặc lâu hơn. Các triệu chứng có thể từ nhẹ đến nghiêm trọng, gây suy nhược và ảnh hưởng đến khả năng làm việc, thực hiện các hoạt động hàng ngày hoặc tập thể dục của một người[7]. Các triệu chứng khác nhau tùy thuộc vào biến thể của virus SARS-COV-2. Rối loạn giấc ngủ phổ biến hơn ở các trường hợp nhiễm chủng ban đầu, mệt mỏi trong giai đoạn Alpha, và các triệu chứng thần kinh trong giai đoạn Alpha và Delta. Omicron có liên quan đến ít triệu chứng về khứu giác và tim phổi hơn nhưng đau cơ thường xuyên hơn. Tuy nhiên, những phát hiện này không nhất quán, có thể là do sự khác biệt về khả năng miễn dịch của vật chủ và khả năng tiếp cận điều trị.

COVID kéo dài ở trẻ em thường biểu hiện bằng mệt mỏi, khó thở và khó khăn về nhận thức thần kinh, có thể ảnh hưởng đến việc đi học và các hoạt động hàng ngày. Mặc dù phần lớn các trường hợp cải thiện trong vòng vài tháng, nhưng một số trẻ em gặp phải các triệu chứng dai dẳng cần theo dõi lâu dài[2].

4. Nguyên nhân 

Nguyên nhân cơ bản dẫn đến các triệu chứng COVID kéo vẫn chưa rõ ràng. Theo nghiên cứu có nhiều biểu hiện lâm sàng rất đa dạng. Hơn 200 triệu chứng khác nhau, điều đáng chú ý COVID kéo dài không chỉ xảy ra ở những bệnh nhân từng mắc bệnh nặng mà còn phổ biến ở cả các trường hợp nhẹ, thú vị hơn khi bệnh nhân nhiễm virus SARS-COV-2 khác nhau có liên quan đến kiểu hình COVID kéo dài khác nhau. Có thể do sự khác biệt trong tương tác giữa virus với vật chủ, trong số các bệnh nhân nhiễm chủng virus ban đầu, tỷ lệ mắc COVID kéo dài cao hơn so với bệnh nhân nhiễm các biến thể alpha hoặc delta SARS-COV-2. Biến thể omicron có liên quan đến nguy cơ mắc COVID kéo dài thấp hơn so với biến thể delta [4]. 

Dựa trên các quan sát trong các hội chứng và tình trạng hậu virus như ME/CFS. Các giả thuyết chính bao gồm: (1) Loại bỏ virus không hoàn toàn, (2) Tái hoạt động virus tiềm ẩn, (3) Rối loạn điều hòa miễn dịch và tự miễn dịch, (4) Rối loạn hệ vi sinh vật, (5) Rối loạn chức năng nội mô và rối loạn điều hòa đông máu, và (6) Rối loạn chức năng ty thể. COVID kéo dài không có một nguyên nhân duy nhất, mà là sự kết hợp của các cơ chế này và gây triệu chứng đa hệ thống của COVID kéo dài (mệt mỏi, đau, sương mù não, rối loạn thần kinh…)

  • Loại bỏ virus không hoàn toàn

Ở các bệnh nhân khi nhiễm virus SARS-COV-2. Cơ thể người vẫn còn tồn tại thành phần của virus như axit ribonucleic (RNA), protein của virus SARS-COV-2 (đặc biệt là protein gai) đã được phát hiện trong nhiều mô và dịch cơ thể bao gồm: máu, phân, nước tiểu, dịch não tủy, mô sinh thiết có thể tồn tại từ 7 đến 12 tháng sau khi nhiễm bệnh. Sự tồn tại dai dẳng này có thể duy trì kích thích miễn dịch, gây viêm mạn tính và góp phần vào các triệu chứng của COVID kéo dài[6].

  • Tái hoạt động virus tiềm ẩn

Tái hoạt động của các virus tiềm ẩn do nhiễm SARS-COV-2 như một cơ chế góp phần vào COVID kéo dài. Các virus tiềm ẩn như virus Epstein-Barr (EBV) và các virus herpes ở người (HHV-6, cytomegalovirus). Hơn 90% cá thể khỏe mạnh mang ít nhất một trong những virus này, hệ miễn dịch interferon (IFN) đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì trạng thái tiềm tàng. Tuy nhiên, SARS-COV-2 có thể làm ức chế tín hiệu IFN thông qua các protein virus (NSP1, NSP3, ORF6, ORF9b) và né tránh hệ miễn dịch bẩm sinh, do đó thúc đẩy sự tái hoạt động của virus tiềm ẩn.

Về mặt lâm sàng, các triệu chứng của COVID kéo dài như mệt mỏi và các vấn đề về thần kinh tâm thần tương tự như các bệnh liên quan đến EBV (như bệnh tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm trùng). EBV và HHV-6 cũng có liên quan đến ME/CFS, vốn có những đặc điểm sinh lý bệnh tương đồng với COVID kéo dài.

Tuy nhiên, không phải tất cả bệnh nhân mắc COVID kéo dài đều có dấu hiệu tái hoạt động của virus, điều này cho thấy cơ chế này chỉ ảnh hưởng đến một nhóm nhỏ và có khả năng tương tác với các con đường gây bệnh khác[6].

  • Rối loạn điều hòa miễn dịch và tự miễn dịch: 

Người bị COVID kéo dài có hệ miễn dịch không trở về trạng thái bình thường sau khi hết nhiễm cấp mà vẫn hoạt động quá mức. Các tế bào miễn dịch, đặc biệt là tế bào T, phản ứng miễn dịch suy yếu có thể dẫn đến kích hoạt miễn dịch mãn tính kéo dài và có thể gây ra COVID kéo dài. Tình trạng suy kiệt, lão hóa ở tế bào T CD4+ và CD8+ và sự rối loạn ở tế bào T điều hòa CD4+ đã được tìm thấy ở những bệnh nhân đang trong giai đoạn hồi phục sau COVID kéo dài sau 3 tháng theo dõi trong quá trình hồi phục khỏi bệnh nặng. Tình trạng suy kiệt/lão hóa vẫn được ghi nhận ở tế bào T CD8+ cho đến 6 tháng sau khi nhiễm trùng nặng. Cùng với sự giảm số lượng tế bào non và sự gia tăng sản xuất granzyme B và interferon gamma (IFN-γ), điều này cho thấy tình trạng viêm chưa được giải quyết trong suốt thời gian mắc COVID kéo dài. Sự mất cân bằng này có thể bắt đầu từ giai đoạn bệnh nặng ban đầu và tiếp tục kéo dài nhiều tháng, thậm chí liên quan trực tiếp đến các triệu chứng như mệt mỏi hay khó thở. Ngoài ra, ở một số trường hợp còn xuất hiện phản ứng tự miễn, khi hệ miễn dịch tấn công chính cơ thể, làm cho tình trạng bệnh trở nên dai dẳng hơn[4].

  • Rối loạn hệ vi sinh vật

 Hệ vi sinh vật đường ruột cũng đóng vai trò then chốt trong việc điều hòa hệ miễn dịch và hệ thần kinh thông qua việc sản xuất các axit béo chuỗi ngắn (SCFA) và chất dẫn truyền thần kinh[6]. Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng rối loạn hệ vi sinh đường ruột làm giảm vi khuẩn có lợi (như Bifidobacterium, Faecalibacterium) có liên quan đến mức độ nặng và các biến chứng kéo dài nhiều tháng sau khi bệnh đã khỏi. Khoảng 78,7% bệnh nhân vẫn chưa hồi phục sau thời gian theo dõi trung bình 14 tháng. Một số loại vi khuẩn và vi sinh vật gây viêm, nhiễm trùng có thể tăng lên, và điều này liên quan đến bệnh nặng hơn cũng như nguy cơ xuất hiện COVID kéo dài[4].

Các công bố cho thấy vai trò của tiềm tàng của hệ vi sinh vật đường ruột tác động đến trục ruột–não. Khi hệ vi sinh bị rối loạn, cơ thể có thể tăng sản xuất các chất trung gian ví dụ như zonulin gây ra sự phá vỡ các mối nối chặt chẽ và kích thích hệ thần kinh ruột và truyền tín hiệu đến hệ thần kinh trung ương (CNS), từ đó gửi tín hiệu bất thường lên não. Điều này có thể góp phần gây ra các triệu chứng thần kinh như mệt mỏi, giảm tập trung hoặc “sương mù não” ở người mắc COVID kéo dài[4].

  • Rối loạn đông máu và rối loạn chức năng nội mô

Rối loạn đông máu và huyết khối nội mạch là những dấu hiệu đặc trưng của nhiều dạng COVID nặng và có liên quan đến nguy cơ tử vong cao hơn. Tình trạng hoạt hóa và tăng tiểu cầu kéo dài xảy ra ở những người sau khi bị COVID. Nồng độ D-dimer tăng cao cũng thấy ở những bệnh nhân mắc COVID kéo dài, điều này làm ảnh hưởng đến khả năng mắc bệnh huyết khối tắc mạch ở những người mắc COVID kéo dài. Theo nghiên cứu từ Pretorius và cộng sự tìm thấy các lắng đọng bất thường lớn là các cục máu đông rất nhỏ (amyloid) trong các mẫu huyết tương từ bệnh nhân mắc COVID kéo dài. Các cục máu đông nhỏ này bao gồm nhiều phân tử gây viêm và α2-antiplasmin, nhiều chuỗi fibrinogen và amyloid A huyết thanh.

Hiện tại các nhà nghiên cứu đưa ra phương pháp lọc huyết tương kết tủa fibrinogen/ lipoprotein mật độ thấp ngoài cơ thể do heparin gây ra (HELP) hoặc dùng nhiều thuốc chống đông, tuy nhiên hầu hết các bệnh nhân này không đáp ứng các tiêu chí để sử dụng các thuốc chống đông máu và có nguy cơ chảy máu cao.

Các thông số đông máu thường quy như D-dimer, yếu tố von Willebrand (VWF) và yếu tố VIII (FVIII) đã được sử dụng làm dấu hiệu của sự hoạt hóa nội mô. Ở bệnh nhân mắc COVID kéo dài. Lớp nội mô bị tổn thương và hoạt động bất thường biểu hiện ở kháng nguyên VWF, tiền peptide VWF và FVIII tăng cao. Rối loạn chức năng nội mô có liên quan đến tắc nghẽn vi mạch ở bệnh nhân; tình trạng giảm đáng kể mật độ mạch máu đã được tìm thấy trong một nghiên cứu đoàn hệ quan sát, tiền cứu ở bệnh nhân mắc COVID kéo dài.

Sự rối loạn này, kết hợp với tình trạng tăng đông, làm cản trở lưu thông máu ở các mạch nhỏ, dẫn đến máu đến ít hơn bình thường và ảnh hưởng đến nhiều cơ quan. Cơ thể có thể cố gắng bù trừ bằng cách tạo thêm mạch máu mới, nhưng cơ chế này không phải lúc nào cũng hiệu quả ở người mắc COVID kéo dài. Đồng thời, hệ miễn dịch và hệ đông máu có sự tương tác chặt chẽ, khi các tế bào miễn dịch hoạt hóa cũng góp phần làm tăng đông và tổn thương nội mô. Một số chất như L-arginine hay vitamin C có thể hỗ trợ cải thiện chức năng nội mô, nhưng hiện vẫn cần thêm bằng chứng để khẳng định hiệu quả điều trị. Ở trẻ em bị COVID kéo dài, cũng ghi nhận tình trạng tăng đông (qua D-dimer), tuy nhiên một số yếu tố khác không thay đổi rõ rệt, cho thấy cơ chế có thể khác so với người lớn [4].

  • Rối loạn chức năng ty thể

Nhiều nghiên cứu cho thấy rối loạn chức năng ty thể có thể đóng vai trò quan trọng trong tập hợp các triệu chứng được quan sát thấy ở bệnh nhân COVID kéo dài [5]. Ty thể là bào quan chịu trách nhiệm sản xuất ATP – nguồn năng lượng chính của tế bào. Khi chức năng ty thể bị nhiễm virus SARS-COV-2, quá trình sản xuất ATP suy giảm, dẫn đến tình trạng thiếu hụt năng lượng, biểu hiện dưới dạng mệt mỏi sâu sắc và kéo dài. Ngoài ra, rối loạn chức năng ty thể còn liên quan đến nhiều biểu hiện lâm sàng khác như rối loạn nhận thức, yếu cơ, khó thở và các triệu chứng tim mạch, thông qua các cơ chế như stress oxy hóa, rối loạn điều hòa miễn dịch, rối loạn chuyển hóa và tổn thương nội mô mạch máu[3].

Tổng thể, COVID kéo dài không đơn thuần là di chứng của nhiễm virus mà là một hội chứng hậu nhiễm phức tạp với sự tham gia của nhiều hệ thống sinh học, trong đó nổi bật là viêm mạn tính và rối loạn chuyển hóa năng lượng. Việc hiểu rõ các cơ chế này là nền tảng quan trọng để phát triển các chiến lược điều trị hiệu quả trong tương lai[5]. 

  1. da Silva, Mônica Duarte và các cộng sự. (2025), “Advances in Understanding Long COVID: Pathophysiological Mechanisms and the Role of Omics Technologies in Biomarker Identification: MD da Silva et al“, Molecular Diagnosis & Therapy. 29(5), tr. 617-636.
  2. Davis, Hannah E và các cộng sự. (2023), “Long COVID: major findings, mechanisms and recommendations“, Nature Reviews Microbiology. 21(3), tr. 133-146.
  3. Gupta, Gautam và các cộng sự. (2025), “Mechanistic insights into long Covid: viral persistence, immune dysregulation, and multi‐organ dysfunction“, Comprehensive Physiology. 15(3), tr. e70019.
  4. Liu, Yan và các cộng sự. (2023), “Mechanisms of long COVID: An updated review“, Chinese medical journal pulmonary and critical care medicine. 1(04), tr. 231-240.
  5. Molnar, Tihamer và các cộng sự. (2024), “Mitochondrial dysfunction in long COVID: mechanisms, consequences, and potential therapeutic approaches“, Geroscience. 46(5), tr. 5267-5286.
  6. Oba, Seiya và các cộng sự. (2026), “Long COVID: Mechanisms of disease, multisystem sequelae, and prospects for treatment“, Immunological Medicine. 49(1), tr. 35-58.
  7. Organization, World Health (2025), Post COVID-19 condition: Clinical case definition, chủ biên, World Health Organization.
  8. Peluso, Michael J và Deeks, Steven G (2024), “Mechanisms of long COVID and the path toward therapeutics“, Cell. 187(20), tr. 5500-5529.

Thanh Nhã