Gia đình và xã hội

Gia đình và xã hội

Nàng Lọ Lem và chiếc giày thủy tinh, chắc hẳn chúng ta đều đã quá quen thuộc với câu chuyện ấy.

Sau bao nhiêu đau khổ và bất công, cô gái hiền lành cuối cùng cũng được chàng hoàng tử đẹp trai, giàu có đưa về cung điện. Nàng từ một cô gái phải sống bên đống tro bếp trở thành công chúa, và họ sẽ sống hạnh phúc bên nhau mãi mãi về sau.

Một cái kết nghe qua thật đẹp, đủ để làm rung động trái tim hiếu kỳ của những cô bé vẫn đang mơ về một ngày nào đó sẽ có người nhận ra giá trị của mình.

Nhưng tôi lại thực sự hoài nghi về cái kết ấy.

Thử nghĩ xem chàng hoàng tử đã gặp Lọ Lem được bao nhiêu lần và trong bao lâu?

Chàng có thực sự nhìn thấy con người nàng, hay chỉ nhìn thấy một cô gái xa lạ xuất hiện giữa vũ hội trong chiếc váy được dệt nên bởi phép màu? Chàng có yêu nàng, hay chỉ yêu vẻ đẹp, sự bí ẩn và cảm giác mà nàng đã đánh thức trong mình trong vài giờ ngắn ngủi?

Ngay cả Lọ Lem, nàng biết gì về chàng hoàng tử ngoài thân phận, vẻ ngoài và quyền lực của chàng?

Có lẽ sau khi sống chung, cả hai sẽ dần nhận ra những phẩm chất mà đêm vũ hội đã khéo léo che khuất. Phép màu sẽ tan, chiếc váy sẽ trở lại thành giẻ rách, cỗ xe lại hóa thành quả bí ngô, và trước mặt họ chỉ còn hai con người bình thường phải học cách chung sống với nhau.

Tình yêu sét đánh của chàng hoàng tử đối với Lọ Lem vì vậy không hẳn vô lý. Nó dựa trên một quan niệm đã tồn tại rất lâu trong văn học lãng mạn: tình yêu như một đam mê đột ngột, vượt khỏi lý trí, địa vị và những chuẩn tắc xã hội thông thường.

Ta có thể nhìn thấy điều đó trong những câu chuyện về Lancelot và Guinevere, Tristan và Isolde, hay The Knight of the Cart.

Lancelot là một hiệp sĩ mang gần như đầy đủ những phẩm chất cao quý mà tinh thần hiệp sĩ đòi hỏi, nhưng lại phản bội vua Arthur vì tình yêu dành cho hoàng hậu Guinevere. Trong văn học về tình yêu cung đình, chính sự bất khả, nguy hiểm và đôi khi trái với nghĩa vụ của tình yêu lại khiến nó trở nên cao quý và bi tráng. Khái niệm “tình yêu cung đình” về sau cũng được dùng để phân tích chính câu chuyện ngoại tình giữa Lancelot và Guinevere trong The Knight of the Cart.

Mâu thuẫn ấy không nhất thiết xuất phát từ việc tình yêu tự thân là vô đạo đức.

Nó xuất hiện bởi tình yêu và hôn nhân trong nhiều xã hội cổ không phải cùng một thứ.

Tình yêu là đam mê riêng tư giữa hai con người. Trong khi đó, hôn nhân, đặc biệt đối với các tầng lớp có tài sản và quyền lực, thường là một liên minh giữa hai gia đình, hai dòng họ hoặc hai thế lực chính trị.

Người ta kết hôn để duy trì huyết thống, truyền thừa tài sản, mở rộng lãnh địa hoặc chấm dứt một cuộc chiến. Tình yêu, nếu xuất hiện, đôi khi chỉ là một điều may mắn đến sau cuộc hôn nhân; còn nếu nó xuất hiện bên ngoài hôn nhân, nó có thể trở thành bi kịch.

Trong Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước, Friedrich Engels dựa nhiều vào những nghiên cứu của Lewis Henry Morgan để trình bày một sơ đồ phát triển của các hình thức gia đình. Theo đó, ba hình thức hôn nhân chủ yếu tương ứng với ba giai đoạn lịch sử mà Engels và Morgan hình dung là quần hôn, gia đình đối ngẫu và gia đình cá thể hay đơn phối.

Trong chế độ quần hôn, quyền và nghĩa vụ vợ chồng không chỉ tồn tại giữa hai cá nhân mà giữa những nhóm người được xác định theo quan hệ thân tộc. Đây không đơn giản là một gia đình gồm vài người đàn ông tùy ý sống chung với vài người phụ nữ, mà là một hệ thống quan hệ hôn nhân được Engels và Morgan suy đoán dựa trên cách gọi thân tộc và những tư liệu dân tộc học của thế kỷ XIX.

Sau đó là gia đình đối ngẫu.

Ở hình thức này, một người đàn ông và một người phụ nữ hình thành một cặp tương đối ổn định trong một khoảng thời gian dài hoặc ngắn. Tuy nhiên, quan hệ ấy chưa mang tính độc quyền và bền chặt như hôn nhân đơn phối về sau. Người đàn ông có thể có một người vợ chính giữa nhiều người vợ, còn đối với người phụ nữ, người đàn ông ấy cũng có thể chỉ là người chồng chính giữa nhiều quan hệ khác.

Cuối cùng là gia đình cá thể hay gia đình đơn phối: hình thức một vợ một chồng mà chúng ta quen thuộc.

Theo Engels, gia đình đơn phối không chủ yếu ra đời từ tình yêu cá nhân, mà từ sự xuất hiện của tư hữu và nhu cầu xác định chắc chắn huyết thống của người thừa kế. Người đàn ông cần biết những đứa trẻ nào thực sự là con mình để tài sản của ông ta được truyền lại đúng cho hậu duệ. Vì vậy, sự chung thủy trở thành một yêu cầu đặc biệt nghiêm khắc đối với người phụ nữ, trong khi người đàn ông vẫn được xã hội dung thứ cho những quan hệ bên ngoài hôn nhân.

Ở đây cũng cần phân biệt gia đình đơn phối với gia đình hạt nhân.

Gia đình đơn phối nói đến chế độ hôn nhân giữa một người đàn ông và một người phụ nữ. Gia đình hạt nhân lại là một cấu trúc hộ gia đình gồm cha mẹ và những người con chưa trưởng thành, tách tương đối khỏi đại gia đình và dòng họ.

Hai hình thức ấy thường đi cùng nhau trong xã hội hiện đại, nhưng không phải là một.

Theo Engels, trong các giai cấp thống trị, hôn nhân từ lâu vẫn chủ yếu là một sự sắp đặt thuận tiện giữa các gia đình. Tình yêu hiệp sĩ thời Trung cổ, ở hình thức điển hình của nó, không những không nằm trong hôn nhân mà còn thường hướng thẳng tới ngoại tình: người hiệp sĩ yêu một người phụ nữ đã là vợ của kẻ khác.

Ngược lại, trong những gia đình vô sản không có nhiều tài sản cần truyền thừa, nền tảng kinh tế của sự thống trị nam giới trong hôn nhân có thể yếu hơn. Engels cho rằng khi người vợ bước ra khỏi gia đình, tham gia lao động và có khả năng trở thành người kiếm sống, cơ sở kinh tế của quyền lực tuyệt đối nơi người chồng cũng bắt đầu lung lay.

Điều đó không có nghĩa tình yêu chỉ tồn tại trong gia đình vô sản, còn quý tộc hay tư sản thì hoàn toàn không biết yêu.

Có lẽ nên hiểu thận trọng hơn rằng ở những nơi hôn nhân bị tài sản, địa vị và quyền thừa kế chi phối mạnh mẽ, tình yêu cá nhân thường không giữ vai trò quyết định trong việc lựa chọn người phối ngẫu.

Tuy nhiên, sơ đồ phát triển từ quần hôn đến đối ngẫu rồi đơn phối của Morgan và Engels ngày nay không thể được xem như một lịch sử phổ quát đã được khoa học chứng minh.

Phần lớn những suy luận ấy dựa trên tư liệu dân tộc học còn hạn chế của thế kỷ XIX và một quan niệm tiến hóa đơn tuyến, theo đó mọi xã hội đều phải lần lượt đi qua cùng một con đường. Nhân học hiện đại nhìn nhận các hệ thống gia đình và thân tộc đa dạng hơn rất nhiều, không nhất thiết phát triển theo một chuỗi cố định từ “nguyên thủy” đến “văn minh”.

Vì vậy, việc một cộng đồng hiện nay có hình thức hôn nhân hay thân tộc tương tự những gì Engels mô tả không chứng minh rằng cộng đồng ấy đang sống trong một giai đoạn quá khứ của nhân loại.

Họ không phải những hóa thạch sống.

Họ chỉ đang tổ chức đời sống gia đình theo một cách khác với chúng ta.

Dẫu vậy, điểm đáng chú ý trong phân tích của Engels vẫn còn ở đó: gia đình không phải một hình thức bất biến được thiên nhiên trao cho con người từ thuở ban đầu. Nó thay đổi cùng với phương thức sản xuất, chế độ tài sản, quan niệm về huyết thống và cấu trúc quyền lực trong xã hội.

Trong thời đại công nghiệp hóa, mối quan hệ gia đình tiếp tục thay đổi.

Phụ nữ ngày càng tham gia sâu hơn vào thị trường lao động. Trụ cột kinh tế không còn mặc nhiên nằm trong tay nam giới. Áp lực kiếm sống và nuôi dưỡng gia đình được chia sẻ giữa hai người, ít nhất trên nguyên tắc.

Khi người phụ nữ cũng đóng góp trực tiếp vào đời sống kinh tế của gia đình, quyền lực phụ hệ dựa trên sự phụ thuộc vật chất của nàng vào người chồng tất nhiên bị suy giảm.

Nhưng một nghịch lý khác lại xuất hiện.

Người phụ nữ bước ra ngoài làm việc như đàn ông, nhưng nhiều khi vẫn phải tiếp tục gánh phần lớn công việc chăm sóc gia đình. Nàng vừa phải trở thành người lao động ngoài xã hội, vừa phải làm người vợ, người mẹ và người giữ lửa theo những chuẩn mực cũ.

Sự giải phóng khỏi một không gian vì vậy chưa chắc đã xóa bỏ chiếc lồng. Đôi khi nó chỉ khiến người phụ nữ phải sống đồng thời trong hai chiếc lồng khác nhau.

Trong gia đình truyền thống, nữ giới thường được đòi hỏi phải chung thủy, vâng lời và giữ gìn những phẩm chất như “tam tòng tứ đức”.

Ngược lại, người đàn ông lại không phải lúc nào cũng bị yêu cầu tuân theo cùng một chuẩn mực. Sự không chung thủy của người phụ nữ có thể bị xem là nỗi nhục của cả gia đình, trong khi những cuộc phiêu lưu tình ái của người đàn ông đôi khi còn được tô điểm thành dấu hiệu của bản lĩnh.

Điều ấy cũng tồn tại trong những xã hội phương Tây cổ đại vốn được xem là có chế độ hôn nhân một vợ một chồng.

Trong các sử thi Hy Lạp, những người anh hùng tham gia chiến tranh thường có những nữ tù binh bên cạnh, vừa là chiến lợi phẩm vừa đóng vai trò hầu hạ và thỏa mãn nhu cầu của họ. Người vợ hợp pháp ở quê nhà hầu như không có quyền quyết định đối với những quan hệ ấy.

Hôn nhân là đơn phối đối với người phụ nữ, nhưng chưa chắc đã thực sự đơn phối đối với người đàn ông.

Engels xem Sparta là một trường hợp có những tàn dư khác biệt của quan hệ hôn nhân cổ.

Plutarch kể rằng khi một người đàn ông muốn quyến rũ một phụ nữ Sparta đã có chồng, nàng trả lời rằng nếu lời đề nghị ấy là chính đáng, anh ta hãy đến trình bày với chồng nàng. Trong Cuộc đời Lycurgus, Plutarch cũng kể những trường hợp người chồng có thể đồng ý để một người đàn ông khác có con với vợ mình, bởi con cái được xem không hoàn toàn là tài sản riêng của cha mẹ mà còn thuộc về cộng đồng.

Những câu chuyện ấy không có nghĩa Sparta là một xã hội bình đẳng giới theo nghĩa hiện đại.

Phụ nữ Sparta vẫn bị quy định mạnh mẽ bởi vai trò sinh ra những chiến binh khỏe mạnh cho Thành Bang. Tuy nhiên, so với phụ nữ ở nhiều thành bang Hy Lạp khác, họ được rèn luyện thân thể, xuất hiện công khai hơn và có tiếng nói đáng kể hơn trong đời sống gia đình. Plutarch còn ghi lại lời Gorgo, vợ của Leonidas, khi được hỏi vì sao phụ nữ Sparta có thể cai trị đàn ông: “Vì chỉ chúng tôi mới sinh ra những người đàn ông.”

Điều đáng nói không phải Sparta tốt đẹp hơn gia đình hiện đại.

Đằng sau địa vị tương đối cao của phụ nữ Sparta vẫn là một xã hội quân sự hóa, được xây dựng trên lao động của tầng lớp Helot bị trị. Người phụ nữ được coi trọng một phần bởi cơ thể nàng có nhiệm vụ sinh sản và duy trì lực lượng chiến binh cho nhà nước.

Nàng có nhiều quyền lực hơn, nhưng quyền lực ấy vẫn bị buộc chặt vào một chức năng mà xã hội đã định sẵn.

Dẫu vậy, trường hợp Sparta đặt ra một câu hỏi đáng suy nghĩ: khi vị trí kinh tế, xã hội và quyền quyết định đối với sinh sản của phụ nữ thay đổi, hình thức gia đình có còn giữ nguyên như trước hay không?

Ngày nay, chúng ta không cần quay trở lại những hình thức gia đình cổ mà Morgan và Engels từng mô tả.

Xã hội hiện đại không quay ngược về công xã nguyên thủy.

Điều đang diễn ra phức tạp hơn nhiều: những chức năng từng bị buộc chặt vào gia đình truyền thống đang dần tách khỏi nhau.

Tình dục không còn chỉ tồn tại trong hôn nhân và một phần đã bị thị trường dịch vụ hóa.

Tình yêu không còn là đặc quyền của những cặp vợ chồng có hôn thú. Nó tồn tại giữa những người đang hẹn hò, những người sống chung nhưng không đăng ký kết hôn và những cặp đôi bất kể giới tính.

Việc sinh sản cũng không còn hoàn toàn trùng với quan hệ tình dục hay hôn nhân, khi các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và những hình thức chăm sóc con cái mới ngày càng phát triển.

Tài sản không còn luôn được truyền theo một dòng huyết thống duy nhất.

Gia đình vì vậy không còn là chiếc bình duy nhất chứa đựng tình yêu, tình dục, sinh sản, lao động chăm sóc và quyền thừa kế.

Khi phụ nữ có thể tự lao động và duy trì đời sống của mình, họ không còn bị buộc phải kết hôn chỉ để có một nơi nương tựa về kinh tế.

Trong một số bối cảnh, họ thậm chí trở thành chủ thể tiêu dùng trong những dịch vụ về cảm xúc và thân mật một vị trí trước đây thường được mặc nhiên dành cho nam giới.

Những hiện tượng ấy không chứng minh rằng xã hội đang quay trở lại chế độ quần hôn.

Chúng chỉ cho thấy quan hệ giữa con người đang được tổ chức lại theo những cách khác, khi những điều từng bị đóng chặt trong một thiết chế duy nhất nay bắt đầu tách rời khỏi nhau.

Vì vậy, câu hỏi không phải là chúng ta phải lựa chọn một mô hình gia đình duy nhất cho toàn bộ xã hội.

Câu hỏi là: khi cấu trúc sản xuất, quan hệ tài sản, vai trò giới và những yếu tố cấu thành gia đình truyền thống đều đang thay đổi, thì gia đình còn giữ vai trò gì trong xã hội hiện đại?

Liệu chúng ta cần bảo tồn một gia đình chủ yếu nhằm duy trì quan hệ sản xuất, xác định huyết thống và truyền thừa tài sản?

Hay gia đình có thể trở thành một cộng đồng tự nguyện, nơi những con người lựa chọn chăm sóc và chịu trách nhiệm với nhau, không phải vì áp lực của huyết thống, pháp luật hay định kiến xã hội?

Các cặp đôi có thể đến với nhau chỉ vì tình yêu và rời đi khi cảm xúc không còn hay không?

Có lẽ câu hỏi ấy không đơn giản.

Bởi nếu gia đình chỉ tồn tại nhờ cảm xúc, nó có thể trở nên quá mong manh trước những biến động nhất thời của lòng người. Nhưng nếu gia đình được duy trì bằng sự cưỡng ép, nghĩa vụ và nỗi sợ hãi dư luận, thì mái nhà ấy cũng có thể chỉ là một nhà tù được trang trí bằng những lời ca ngợi về hy sinh.

Tình yêu có thể mở đầu một gia đình, nhưng có lẽ tình yêu thôi chưa đủ để duy trì nó.

Một gia đình còn cần trách nhiệm, sự chăm sóc, khả năng thương lượng và sự thừa nhận rằng người sống bên cạnh ta vẫn là một chủ thể độc lập, không phải tài sản được trao cho ta bằng một tờ giấy chứng nhận.

Con đường hướng tới một xã hội nơi quan hệ giữa người với người không còn bị chi phối bởi tài sản và sự thống trị, như Marx và Engels từng mong đợi, có lẽ vẫn còn rất xa.

Nhưng ngay trong hiện tại, chúng ta vẫn phải tự hỏi mình muốn nhìn nhận thế nào về tình yêu, hôn nhân và gia đình.

Điều đó tùy thuộc vào cách mỗi người định nghĩa hạnh phúc.

Có người tìm thấy hạnh phúc trong một cuộc hôn nhân kéo dài trọn đời.

Có người tìm thấy nó trong một gia đình không giống với bất kỳ hình mẫu truyền thống nào.

Cũng có người lựa chọn sống một mình mà không vì thế trở thành một con người thiếu hụt.

Nàng Lọ Lem có thể vẫn tìm thấy hạnh phúc bên chàng hoàng tử.

Nhưng có lẽ điều quan trọng không phải là nàng có bước vào cung điện hay không, mà là sau khi phép màu tan biến, cả hai có còn nhìn thấy nhau như hai con người hay chỉ cố giữ lấy hình ảnh đẹp đẽ của đêm vũ hội.

Chúc các bạn, dù thuộc giới tính nào, đều có thể tìm thấy đôi giày vừa với mình.

Hoặc tốt hơn nữa, có đủ tự do để bước đi bằng chính đôi chân của mình, thay vì phải đẽo chân cho vừa với chiếc giày duy nhất mà xã hội đã đặt sẵn trước mặt.

Xin chân thành cảm ơn.

Tài liệu tham khảo:
Engels, F. (1884). Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước. Marxists Internet Archive.

𝐓𝐡𝐞 𝐈𝐧𝐡𝐞𝐫𝐞𝐧𝐭 𝐇𝐞𝐫 – 𝐕𝐨̂́𝐧 𝐝𝐢̃ 𝐯𝐞̣𝐧 𝐧𝐠𝐮𝐲𝐞̂𝐧