- BỆNH SỞI – TÌNH HÌNH CHUNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAMSởi (Rubeola) là bệnh truyền nhiễm cáp tính do Virus Measles (MeV) gây ra, có khả năng lây lan rất mạnh qua đường hô hấp (R₀ từ 12–18). Dù vaccine đã có từ năm 1963 và hiệu quả cao, sởi vẫn gây ra hàng triệu ca mắc và hàng trăm nghìn ca tử vong mỗi năm, nhất là ở những nơi có tỷ lệ tiêm chủng thấp.MeV không chỉ gây bệnh cấp tính mà còn làm suy giảm miễn dịch kéo dài, khiến người bệnh dễ mắc thêm các bệnh nhiễm trùng khác. Các biến chứng của sởi khá nghiêm trọng, như viêm phổi, viêm não cấp, SSPE – viêm não toàn bộ sơ hóa bán cấp; trong đó Viêm phổi là nguyên nhân tử vong hàng đầu. Nhóm dễ mắc bệnh gồm trẻ em dưới 5 tuổi, người lớn chưa tiêm chủng, phụ nữ mang thai và người suy giảm miễn dịch. Đáng chú ý, trẻ sơ sinh chưa đến tuổi tiêm vaccine và người thiếu vitamin A là nhóm cực kỳ dễ tổn thương. Bên cạnh đó, tình trạng di cư, đô thị hóa nhanh và ảnh hưởng của COVID-19 khiến nguy cơ dịch bùng phát trở lại.
- TÌNH HÌNH CHUNG CỦA BỆNH SỞI TRÊN THẾ GIỚI
Tỷ lệ mắc và tử vong
Trong giai đoạn 2000–2023, tiêm vaccine phòng Sởi đã cứu được khoảng 60 triệu sinh mạng.
Từ năm 2022 đến năm 2023, tỷ lệ bao phủ với liều vaccine phòng Sởi đầu tiên vẫn ở mức 83%. Ước tính số ca mắc Sởi tăng 20% trên toàn thế giới (từ 8.645.000 lên 10.341.000) và số quốc gia bị ảnh hưởng bởi các đợt bùng phát lớn hoặc gây gián đoạn tăng từ 36% lên 57%. Số ca tử vong do Sởi ước tính giảm 8%, từ 116.800 vào năm 2022 xuống còn 107.500 vào năm 2023, chủ yếu là do số ca mắc tăng ở các quốc gia có nguy cơ tử vong thấp hơn.
- Các khu vực trọng điểm xảy ra bệnh Sởi
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hầu hết trường hợp người bị nhiễm bệnh Sởi cũng như tử vong do bệnh Sởi đa phần là những người chưa tiêm vaccine hoặc trẻ em dưới 5 tuổi. Các trường hợp mắc bệnh phổ biến nhất ở một số vùng của Châu Phi, Trung Đông và Châu Á, nơi thu nhập thấp và dịch vụ y tế không đầy đủ.
Trong khi số ca tử vong liên quan đến bệnh Sởi giảm nhẹ vào năm 2023, số lượng các đợt bùng phát lại tăng lên. Các đợt bùng phát lớn đã diễn ra ở 57 quốc gia vào năm 2023, bao gồm Ấn Độ và Indonesia, Nga, Yemen và Iraq. Số ca mắc lớn nhất vào năm 2023 là 311.500 tại Cộng hòa Dân chủ Congo.
- Phòng chống bệnh Sởi trên toàn thế giới
Sởi là một căn bệnh truyền nhiễm cao có thể gây ra các biến chứng nghiêm trọng và tử vong [16]. Tiêm vaccine Sởi có hiệu quả cao trong việc ngăn ngừa bệnh Sởi trong 50 năm qua, đã cứu được khoảng 94 triệu sinh mạng trên toàn cầu [17].
Mặc dù tất cả các quốc gia trong sáu khu vực của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã cam kết loại trừ bệnh Sởi nhưng không có khu vực nào đạt được và duy trì được mục tiêu loại trừ bệnh Sởi tính đến cuối năm 2023.
Chương trình nghị sự tiêm chủng 2030 (IA2030) bao gồm việc loại trừ bệnh Sởi như một chỉ số cốt lõi về tác động của các chương trình tiêm chủng [18]. Tiêm ngừa Sởi đóng vai trò là dấu hiệu đánh dấu năng lực của hệ thống y tế trong việc cung cấp các loại vaccine thiết yếu trong giai đoạn trẻ mới sinh [19].
- TÌNH HÌNH CHUNG CỦA BỆNH SỞI TẠI VIỆT NAM
Hiện nay, Việt Nam đang ở trong giai đoạn bùng phát bệnh sởi theo chu kỳ 4 – 5 năm một lần [23], trước tình hình diễn biến phức tạp đó Bộ Y tế đã chỉ đạo các địa phương triển khai các biện pháp phòng chống bệnh sởi từ cuối năm 2024, tuy nhiên tỷ lệ mắc bệnh vẫn ở mức cao và đang có nguy cơ gia tăng. Phần lớn do tỷ lệ tiêm chủng không đồng đều giữa các địa phương đặc biệt là vùng sâu, vùng xa [20].
Cụ thể theo thông tin công bố của Bộ Y tế từ đầu năm 2025 đến ngày 15/3, cả nước đã ghi nhận tổng cộng 38.807 trường hợp nghi mắc sởi, trong đó có 3.447 ca dương tính được xác nhận tại 61 tỉnh, thành phố, kèm theo 5 trường hợp tử vong có liên quan đến bệnh lý này [20].
Phân bố dịch tễ học cho thấy khu vực miền Nam chiếm tỷ lệ cao nhất với 57% tổng số ca mắc, tiếp theo là miền Trung (19,2%), miền Bắc (15,1%) và Tây Nguyên (8,7%). Một số địa phương ghi nhận số ca mắc gia tăng rõ rệt như Đà Nẵng (2.043 ca), Gia Lai (1.879 ca), Khánh Hòa (1.661 ca), và Đồng Tháp (1.202 ca). Một số tỉnh như Hà Giang (6.017 ca) và TP. Hồ Chí Minh (3.321 ca) có số ca mắc cao nhưng đang có dấu hiệu chững lại [20].
Từ nghiên cứu của nhóm tác giả Phan Đặng Trang Đài, Nguyễn Ngọc Rạng, Nguyễn Thị Thu Ba, & Trần Công Lý (2022), cho thấy trẻ sống ở vùng thành thị, mật độ dân số càng đông tỷ lệ lây nhiễm càng cao. Do bệnh sởi là bệnh truyền nhiễm qua đường hô hấp, bên cạnh đó môi trường sống chật trội, ẩm thấp, ô nhiễm cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng bệnh trở nên nặng và liên quan đến nhiều biến chứng khác [21].
Về độ tuổi, 72,7% số ca mắc tập trung ở nhóm trẻ từ 9 tháng đến dưới 15 tuổi – đây là nhóm tuổi có nguy cơ lây nhiễm cao nếu không được tiêm chủng đầy đủ. Đáng chú ý, 15,3% trường hợp thuộc nhóm trẻ dưới 9 tháng tuổi, vốn chưa đến độ tuổi được tiêm vaccine sởi theo chương trình tiêm chủng mở rộng. Ngoài ra, tỷ lệ mắc ở trẻ nam (55,7%) cũng cao hơn so với trẻ nữ (44,3%) [20].
Hơn thế, sởi là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, phần lớn các trường hợp có thể khỏi hẳn mà không để lại di chứng. Tuy nhiên, ở một số người bệnh, các biến chứng có thể xuất hiện trong thời gian mắc bệnh hoặc sau khi phát ban. Những biến chứng thường gặp bao gồm viêm phổi, viêm não, viêm tai giữa và tiêu chảy. Đáng chú ý phần lớn các ca tử vong liên quan đến bệnh sởi đều do các biến chứng này gây ra.
Từ một nghiên cứu tại bệnh viện sản Nhi tỉnh Cà Mau cho thấy: 411/753 trẻ mắc bệnh Sởi có biến chứng, chiếm ti lệ 54,58%.
Bảng. tỷ lệ biến chứng của trẻ mắc sởi
Biến chứng Số lượng (n) Tỷ lệ (%) Viêm phổi 257 62,54 Viêm tai giữa 24 5,84 Tiêu chảy 108 26,27 Khác 22 5,35 Tổng 411 100 Tỷ lệ trẻ có biến chứng viêm phổi chiếm tỷ lệ cao nhất 62,54% trên tổng 411 trẻ. Do đó bệnh sởi được coi là thách thức y tế đáng quan ngại hiện nay.
Nhìn chung, tình hình mắc bệnh sởi tại Việt Nam và trên thế giới còn phức tạp, nguy cơ nhiễm bệnh và biến chứng còn khá cao. Vì vậy, bằng các biện pháp như tiêm đủ 2 mũi vaccine, bổ sung vitamin A và nâng cao nhận thức cộng đồng là các biện pháp thiết yếu để kiểm soát và hướng tới việc phòng trừ hoàn toàn bệnh sởi.
Dù vaccine đã có từ năm 1963 và hiệu quả cao, sởi vẫn gây ra hàng triệu ca mắc và hàng trăm nghìn ca tử vong mỗii năm, nhất là ở những nơi có tỷ lệ tiêm chủng thấp.
Sởi (Rubeola) là bệnh truyền nhiễm cáp tính do Virus Measles (MeV) gây ra, có khả năng lây lan rất mạnh qua đường hô hấp.
Dù vaccine đã có từ năm 1963 và hiệu quả cao, sởi vẫn gây ra hàng triệu ca mắc và hàng trăm nghìn ca tử vong mỗi năm, nhất là ở những nơi có tỷ lệ tiêm chủng thấp.
MeV không chỉ gây bệnh cấp tính mà còn làm suy giảm miễn dịch kéo dài, khiến người bệnh dễ mắc thêm các bệnh nhiễm trùng khác. Các biến chứng của sởi khá nghiêm trọng, như viêm phổi, viêm não cấp, SSPE – viêm não toàn bộ sơ hóa bán cấp; trong đó Viêm phổi là nguyên nhân tử vong hàng đầu.
Nhóm dễ mắc bệnh gồm trẻ em dưới 5 tuổi, người lớn chưa tiêm chủng, phụ nữ mang thai và người suy giảm miễn dịch. Đáng chú ý, trẻ sơ sinh chưa đến tuổi tiêm vaccine và người thiếu vitamin A là nhóm cực kỳ dễ tổn thương. Bên cạnh đó, tình trạng di cư, đô thị hóa nhanh và ảnh hưởng của COVID-19 khiến nguy cơ dịch bùng phát trở lại.
- TÌNH HÌNH CHUNG CỦA BỆNH SỞI TRÊN THẾ GIỚI
- Tỷ lệ mắc và tử vong
Trong giai đoạn 2000–2023, tiêm vaccine phòng sởi đã cứu được khoảng 60 triệu sinh mạng.
Từ năm 2022 đến năm 2023, tỷ lệ bao phủ với liều vaccine phòng sởi đầu tiên vẫn ở mức 83%. Ước tính số ca mắc sởi tăng 20% trên toàn thế giới (từ 8.645.000 lên 10.341.000) và số quốc gia bị ảnh hưởng bởi các đợt bùng phát lớn hoặc gây gián đoạn tăng từ 36% lên 57%. Số ca tử vong do sởi ước tính giảm 8%, từ 116.800 vào năm 2022 xuống còn 107.500 vào năm 2023, chủ yếu là do số ca mắc tăng ở các quốc gia có nguy cơ tử vong thấp hơn.
- Các khu vực trọng điểm xảy ra bệnh Sởi
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hầu hết trường hợp người bị nhiễm bệnh sởi cũng như tử vong do sởi đa phần là những người chưa tiêm vaccine hoặc trẻ em dưới 5 tuổi. Các trường hợp mắc bệnh phổ biến nhất ở một số vùng của Châu Phi, Trung Đông và Châu Á, nơi thu nhập thấp và dịch vụ y tế không đầy đủ.
Trong khi số ca tử vong liên quan đến bệnh sởi giảm nhẹ vào năm 2023, số lượng các đợt bùng phát lại tăng lên. Các đợt bùng phát lớn đã diễn ra ở 57 quốc gia vào năm 2023, bao gồm Ấn Độ và Indonesia, Nga, Yemen và Iraq. Số ca mắc lớn nhất vào năm 2023 là 311.500 tại Cộng hòa Dân chủ Congo.
- Phòng chống bệnh Sởi trên toàn thế giới
Sởi là một căn bệnh truyền nhiễm cao có thể gây ra các biến chứng nghiêm trọng và tử vong. Tiêm vaccine sởi có hiệu quả cao trong việc ngăn ngừa bệnh sởi trong 50 năm qua, đã cứu được khoảng 94 triệu sinh mạng trên toàn cầu.
Mặc dù tất cả các quốc gia trong sáu khu vực của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã cam kết loại trừ bệnh Sởi nhưng không có khu vực nào đạt được và duy trì được mục tiêu loại trừ bệnh sởi tính đến cuối năm 2023.
Chương trình nghị sự tiêm chủng 2030 (IA2030) bao gồm việc loại trừ bệnh sởi như một chỉ số cốt lõi về tác động của các chương trình tiêm chủng. Tiêm ngừa sởi được coi là yếu tố đánh giá năng lực của hệ thống y tế trong việc cung cấp các loại vaccine thiết yếu trong giai đoạn trẻ mới sinh.
- TÌNH HÌNH CHUNG CỦA BỆNH SỞI TẠI VIỆT NAM
Hiện nay, Việt Nam đang ở trong giai đoạn bùng phát bệnh sởi theo chu kỳ 4 – 5 năm một lần, trước tình hình diễn biến phức tạp đó Bộ Y tế đã chỉ đạo các địa phương triển khai các biện pháp phòng chống bệnh sởi từ cuối năm 2024. Tuy nhiên tỷ lệ mắc bệnh vẫn ở mức cao và đang có nguy cơ gia tăng. Phần lớn do tỷ lệ tiêm chủng không đồng đều giữa các địa phương đặc biệt là vùng sâu, vùng xa.
Cụ thể theo thông tin công bố của Bộ Y tế từ đầu năm 2025 đến ngày 15/3, cả nước đã ghi nhận tổng cộng 38.807 trường hợp nghi mắc sởi, trong đó có 3.447 ca dương tính được xác nhận tại 61 tỉnh, thành phố, kèm theo 5 trường hợp tử vong có liên quan đến bệnh lý này.
Phân bố dịch tễ học cho thấy khu vực miền Nam chiếm tỷ lệ cao nhất với 57% tổng số ca mắc, tiếp theo là miền Trung (19,2%), miền Bắc (15,1%) và Tây Nguyên (8,7%). Một số địa phương ghi nhận số ca mắc gia tăng rõ rệt như Đà Nẵng (2.043 ca), Gia Lai (1.879 ca), Khánh Hòa (1.661 ca), và Đồng Tháp (1.202 ca). Một số tỉnh như Hà Giang (6.017 ca) và TP. Hồ Chí Minh (3.321 ca) có số ca mắc cao nhưng đang có dấu hiệu chững lại.
Từ nghiên cứu của nhóm tác giả Phan Đặng Trang Đài, Nguyễn Ngọc Rạng, Nguyễn Thị Thu Ba, & Trần Công Lý (2022), cho thấy trẻ sống ở vùng thành thị, mật độ dân số càng đông tỷ lệ lây nhiễm càng cao. Do bệnh sởi là bệnh truyền nhiễm qua đường hô hấp, bên cạnh đó môi trường sống chật trội, ẩm thấp, ô nhiễm cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng bệnh trở nên nặng và liên quan đến nhiều biến chứng khác.
Về độ tuổi, 72,7% số ca mắc tập trung ở nhóm trẻ từ 9 tháng đến dưới 15 tuổi – đây là nhóm tuổi có nguy cơ lây nhiễm cao nếu không được tiêm chủng đầy đủ. Đáng chú ý, 15,3% trường hợp thuộc nhóm trẻ dưới 9 tháng tuổi, vốn chưa đến độ tuổi được tiêm vaccine sởi theo chương trình tiêm chủng mở rộng. Ngoài ra, tỷ lệ mắc ở trẻ nam (55,7%) cũng cao hơn so với trẻ nữ (44,3%).
Hơn thế, sởi là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, phần lớn các trường hợp có thể khỏi hẳn mà không để lại di chứng. Tuy nhiên, ở một số người bệnh, các biến chứng có thể xuất hiện trong thời gian mắc bệnh hoặc sau khi phát ban. Những biến chứng thường gặp bao gồm viêm phổi, viêm não, viêm tai giữa và tiêu chảy. Đáng chú ý phần lớn các ca tử vong liên quan đến bệnh sởi đều do các biến chứng này gây ra.
Từ một nghiên cứu tại bệnh viện sản Nhi tỉnh Cà Mau cho thấy: 411/753 trẻ mắc bệnh Sởi có biến chứng, chiếm ti lệ 54,58%.
Biến chứng Số lượng (n) Tỷ lệ (%) Viêm phổi 257 62,54 Viêm tai giữa 24 5,84 Tiêu chảy 108 26,27 Khác 22 5,35 Tổng 411 100 Bảng 1. Tỷ lệ biến chứng của trẻ mắc sởi
Tỷ lệ trẻ có biến chứng viêm phổi chiếm tỷ lệ cao nhất 62,54% trên tổng 411 trẻ. Do đó bệnh sởi được coi là thách thức y tế đáng quan ngại hiện nay.
Nhìn chung, tình hình mắc bệnh sởi tại Việt Nam và trên thế giới còn phức tạp, nguy cơ nhiễm bệnh và biến chứng còn khá cao. Vì vậy, bằng các biện pháp như tiêm đủ 2 mũi vaccine, bổ sung vitamin A và nâng cao nhận thức cộng đồng là các biện pháp thiết yếu để kiểm soát và hướng tới việc phòng trừ hoàn toàn bệnh sởi.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Moss, W. J. (2017). Measles. The Lancet, 390(10111), 2490–2502. https://doi.org/10.1016/S0140-6736(17)31463-0
- Laksono, B. M., de Vries, R. D., McQuaid, S., Duprex, W. P., & de Swart, R. L. (2016). Measles Virus Host Invasion and Pathogenesis. Viruses, 8(8), 210. https://doi.org/10.3390/v8080210
- Griffin, D. E. (2016). The Immune Response in Measles: Virus Control, Clearance and Protective Immunity. Viruses, 8(10), 282. https://doi.org/10.3390/v8100282
- Morales, G. B., & Muñoz, M. A. (2021). Immune amnesia induced by measles and its effects on concurrent epidemics. Journal of the Royal Society Interface, 18(179), 20210153. https://doi.org/10.1098/rsif.2021.0153
- Parums, D. V. (2024). A Review of the Resurgence of Measles, a Vaccine-Preventable Disease, as Current Concerns Contrast with Past Hopes for Measles Elimination. Medical Science Monitor, 30, e944436. https://doi.org/10.12659/MSM.944436
- Cockbain, B. C., King, R., & Wade, M. (2017). Measles in older children and adults. BMJ, 356, j426. https://doi.org/10.1136/bmj.j426
- Davaro, R. E. (2013). Measles Virus. In Viruses and the Lung (pp. 71–78). Springer. https://doi.org/10.1007/978-1-4614-5453-6_7
- Bellini, W. J., Rota, J. S., Lowe, L. E., Katz, R. S., Dyken, P. R., Zaki, S. R., & Rota, P. A. (2005). Subacute sclerosing panencephalitis: More cases of this fatal disease are prevented by measles immunization than was previously recognized. The Journal of Infectious Diseases, 192(10), 1686–1693. https://doi.org/10.1086/497169
- Guillet, M., Cottin, J., & Vauloup-Fellous, C. (2012). [Measles in pregnancy: a review]. Journal de Gynécologie Obstétrique et Biologie de la Reproduction, 41(3), 209–218. https://doi.org/10.1016/j.jgyn.2012.01.010
- Permar, S. R., Griffin, D. E., & Letvin, N. L. (2006). Immune containment and consequences of measles virus infection in healthy and immunocompromised individuals. Clinical and Vaccine Immunology, 13(4), 437–443. https://doi.org/10.1128/CDLI.13.4.437-443.2006
- Barclay, A. J. G., Foster, A., & Sommer, A. (1987). Vitamin A supplements and mortality related to measles: A randomised clinical trial. BMJ (Clinical Research Edition), 294(6567), 294–296. https://doi.org/10.1136/bmj.294.6567.294
Sương Sương, Thúy Bình, Quang Sang

