Liệu pháp tâm lý là một phương pháp dựa trên giao tiếp và tương tác giữa nhà trị liệu tâm lý (psychotherapist) và người cần hỗ trợ nhằm giúp đỡ người bệnh khám phá, hiểu rõ và thay đổi cảm xúc, suy nghĩ, hành vi của bản thân. Liệu pháp tâm lý, được sử dụng để đối mặt với các chứng rối loạn lo âu, stress, thường được đề xuất đó là cho người bệnh tiếp xúc với nguyên nhân gây nên các căng thẳng tâm lý theo từng phần nhỏ, chầm chậm. Một người bị căng thẳng khi phải nói trước đám đông, hướng khắc phục phổ biến là cho họ tiếp xúc với các nhóm nhỏ, người quen, thân thiết để tạo cảm giác làm quen dần. Đối với những người có xu hướng hoảng loạn kịch phát (anxiety attack), nghĩa là người bệnh thường có xu hướng thở gấp, khiến cho nhịp tim tăng và làm cơ thể gần như bất động, có thể làm quen với việc thở gấp – tức chủ động đẩy nhịp thở lên và dần làm chủ kích ứng này.
Ngoài ra, một hình thức khác như đánh lạc hướng có thể áp dụng đối với các dạng rối loạn tâm lý từ nỗi sợ – phobias, ví dụ như hội chứng sợ không gian hẹp (Claustrophobia), khi người bệnh ở trong không gian mà theo tâm thức họ cho là chật hẹp, tâm trí sẽ rối loạn, gây căng thẳng tột độ,,… Các nhà tâm lý học đã thử nghiệm cho người bệnh tập làm quen với việc đánh lạc hướng suy nghĩ khỏi nguồn gây lo âu, ở đây là căn phòng hẹp, thông qua việc nhắm mắt hoặc chỉ tập trung vào người đối diện. Việc tự tranh luận để suy nghĩ theo hướng tích cực cũng là một cách trấn an bản thân.
Tuy vậy, người bị rối loạn thần kinh mãn tính phải kết hợp dùng các loại thuốc an thần như Benzodiazepines để có thể điều tiết tâm thần. Kể cả được điều trị bằng những phương pháp tâm lý học, người bệnh chỉ có thể giảm liều lượng thuốc mà không thể loại bỏ hoàn toàn bởi vì họ vẫn phải tự điều chỉnh lối suy nghĩ, nên việc tái phát là không thể tránh khỏi. Từ đây, nhiều nghiên cứu đưa ra các phương pháp sử dụng thuốc hoặc liệu pháp sinh học an toàn giúp người bệnh giảm các rối loạn thần kinh. (1)
- Liệu pháp sinh học
Một trong những hướng nghiên cứu phổ biến nhất về điều trị stress, trầm cảm thông qua liệu pháp sinh học đó là nghiên cứu về mối quan hệ mật thiết giữa hệ vi sinh đường ruột và hệ thần kinh, hay còn một cách diễn đạt khác là trục ruột-não.
Trục ruột-não (gut-brain axis hay GBA) ám chỉ sự liên kết 2 chiều giữa hệ thần kinh trung ương và hệ vi sinh đường ruột. Nhiều bằng chứng chỉ ra những bệnh nhân mắc các bệnh đường tiêu hóa như viêm ruột hay hội chứng ruột kích thích có xu hướng gây rối loạn căng thẳng hoặc trầm cảm do tác động gây viêm từ cytokine (2). Cụ thể, nghiên cứu năm 2015 của Janice và cộng sự đã phân tích rằng phản ứng viêm tăng cường sản sinh cytokine – chất truyền tín hiệu liên quan đến đáp ứng miễn dịch – gây ra sự rối loạn chuyển hóa các chất dẫn truyền thần kinh, dẫn tới thay đổi hoạt động thần kinh ở não và ảnh hưởng đến khả năng điều tiết tâm trạng (3). Không những thế, các rối loạn tinh thần cũng làm kéo dài và nặng thêm các tình trạng viêm. Trầm cảm và lo âu làm tăng tính thấm của thành ruột, tạo điều kiện cho vi khuẩn hoặc mầm bệnh xâm nhập vào quá trình tuần hoàn của con đường truyền tín hiệu và gây ra phản ứng viêm thông qua endotoxin của chúng (3). Điều này tác động tiêu cực lên hệ thần kinh trung ương.
Các nhà khoa học cho rằng can thiệp vào trục ruột – não có thể giúp giảm stress và lo âu thông qua việc điều chỉnh hệ vi sinh đường ruột. Phương pháp phổ biến là dùng probiotic và prebiotic (gọi chung là psychobiotics) để cân bằng hệ vi sinh (4). Nghiên cứu của Peluso (2009) cho thấy việc sử dụng psychobiotics ảnh hưởng đến hoạt động của hạch hạnh nhân – vùng não liên quan đến lo âu, cũng như mối quan hệ giữa vùng hạch và não (5). Tương tự, Pinto-Sanchez phát hiện psychobiotics có thể giảm catecholamine, từ đó hạn chế phản ứng “chiến đấu hay bỏ chạy” và giảm lo âu ở các bệnh nhân bị hội chứng ruột kích thích (6).
Ngoài ra, một số thuốc tác động đến hormone như oxytocin, melatonin cũng giúp giảm stress và lo âu bằng cách ảnh hưởng đến hệ thần kinh và chất dẫn truyền thần kinh. Ví dụ, điều chỉnh chuyển hóa tryptophan để tăng serotonin có thể hỗ trợ giảm triệu chứng trầm cảm (7).
- Liệu pháp sinh học: phân tích ưu nhược điểm của một số loại thuốc dùng để giảm stress và căng thẳng
- Melatonin
Melatonin, hormone được sản xuất bởi tuyến tùng, có tác dụng gây buồn ngủ nên thường được sử dụng trong việc điều hòa giấc ngủ, hỗ trợ điều trị mất ngủ và cải thiện nhịp sinh học nhưng nó không phải là thuốc ngủ. Nghiên cứu cho thấy melatonin cũng có thể có hiệu quả trong việc giảm các triệu chứng lo âu bằng cách giúp bạn nghỉ ngơi nhiều hơn (8).
Melatonin ngoại sinh – dạng hormone tổng hợp không do cơ thể tự sản xuất- ngày càng phổ biến như một chất hỗ trợ giấc ngủ.
Melatonin có thể là một phương pháp an toàn để giảm các triệu chứng lo âu, tuy nhiên tác dụng thường nhẹ và hạn chế trong trường hợp lo âu nặng.
- GBBA
Gamma aminobutyric acid (GABA), một axit amin tự nhiên được sản sinh tự nhiên trong não, hoạt động như một chất ức chế dẫn truyền thần kinh, vì chúng ngăn chặn một số tín hiệu não nhất định, làm giảm mức độ hoạt động của hệ thần kinh và giúp giảm nhẹ triệu chứng stress, chứ không giải quyết nguyên nhân.
Não bộ thường giải phóng GABA một cách tự nhiên vào cuối ngày để thúc đẩy cơn buồn ngủ và cho phép cơ thể nghỉ ngơi, giúp giảm lo âu, trầm cảm và căng thẳng.
Các loại thuốc giúp tăng GABA (9):
- Valproate: có thể ổn định tâm trạng và ngăn ngừa co giật
- Gabapentin:kiểm soát cơn đau thần kinh
- Baclofen: giảm co thắt cơ và điều trị chứng ngủ rũ, một rối loạn giấc ngủ
- Benzodiazepin (như valium, xanax): điều trị lo âu, kích động, co giật và co thắt cơ
GABA, ở dạng phù hợp, hoàn toàn an toàn và hiệu quả đáng kể mà không gây tác dụng phụ. Tuy nhiên, những loại thuốc như Valium, Neurontin, Baclofen và Valproate có nhiều tác dụng phụ, có khả năng gây nghiện cao và không phù hợp để sử dụng lâu dài (10).
- Oxytocin
Oxytocin,hormone được sản xuất bởi tuyến yên, có tác dụng ức chế lo âu và chống căng thẳng, tạo cảm giác gần gũi cho con người cũng như đối với hành vi tâm lý xã hội và chức năng sinh sản (11).
Các nghiên cứu cho thấy nồng độ oxytocin trong máu tăng lên khi con người chịu áp lực về thể chất như đau đớn hoặc bị kìm kẹp. Điều này ngăn hệ thần kinh ngừng hoạt động khi đối mặt với khó khăn, đồng thời làm giảm hormone căng thẳng cortisol (12).
Oxytocin có tác dụng gần như ngay lập tức nhưng ngắn hạn và cần sử dụng thường xuyên để duy trì hiệu quả. Oxytocin có thể được tiêm tĩnh mạch, tác dụng của nó gần như ngay lập tức với nồng độ đỉnh sau 30 phút. Nó cũng có thể được tiêm bắp với thời gian khởi phát tác dụng chậm hơn, mất 3-7 phút, với tác dụng lâm sàng kéo dài hơn, lên đến một giờ (13).

hành trình sản xuất Cortisol và Adrenalin vào máu
- Psychobiotics
Psychobiotics là những chế phẩm sinh học, khi được sử dụng với liều lượng phù hợp, có thể cải thiện sức khỏe tâm thần của người sử dụng nhờ vào sự tương tác với hệ vi sinh vật đường ruột. Psychobiotics bao gồm cả vi khuẩn có lợi (probiotics) và nguồn thức ăn cho các vi khuẩn đó (prebiotics) (14).
Psychobiotics có tác dụng giảm lo âu và chống trầm cảm. Việc sử dụng chúng được coi là một lựa chọn khả thi để chăm sóc và phục hồi sức khỏe tâm thần, không có tác dụng phụ không mong muốn, nguy cơ dị ứng thấp hơn, ít phụ thuộc hơn so với thuốc hướng thần (14) và an toàn khi sử dụng lâu dài.
Tuy nhiên, hiệu quả của psychobiotics không đồng nhất, phụ thuộc vào từng chủng vi sinh, liều lượng, thời gian sử dụng và phương pháp đánh giá. Có hiệu quả đáng kể khi được đánh giá bằng BDI, nhưng kết quả không đáng kể khi sử dụng các đánh giá HAMD, DASS hoặc MADRS (15).
- Magnesium
Mg2+ là cation phổ biến thứ tư trong cơ thể và là cation nội bào phổ biến thứ hai. Nó tham gia vào nhiều quá trình khác nhau của tế bào, như chuyển hóa hiếu khí và kỵ khí, phản ứng sinh năng lượng, điều hòa các con đường chuyển hóa, truyền tín hiệu, hoạt động của kênh ion v.v. Căng thẳng cấp tính đã được chứng minh là có liên quan đến việc tăng nồng độ magie huyết tương và tăng bài tiết magie qua nước tiểu, làm tăng cường các tác động tiêu cực của nhau (16). Mặc dù đã có nhiều khám phá, nhiều khía cạnh của magie vẫn còn chưa rõ ràng.
Magie an toàn cho hầu hết mọi người khi dùng đúng cách, nhưng liều cao có thể gây tích tụ, dẫn đến rối loạn nhịp tim, huyết áp thấp, lú lẫn, thở chậm, hôn mê và tử vong (17). Thời gian để có tác dụng lâu, tình trạng lo âu nhẹ có thể giảm trong vòng một đến hai tuần bổ sung magie thường xuyên.

Câu hỏi về stress
Tài liệu tham khảo:
- Jackson C.B., Farzan M., Chen B., et al., (2022), “Mechanisms of SARS-CoV-2 entry into cells”, Nature Reviews Molecular Cell Biology, 23(1), pp. 3–20.
- Gelder M.G., (1986), “Psychological Treatment for Anxiety Disorders: A Review”, Journal of the Royal Society of Medicine, 79(4), pp. 230–233.
- Clapp M., Aurora N., Herrera L., et al., (2017), “Gut microbiota’s effect on mental health: The gut-brain axis”, Clinical Practice, 7(4), pp. 987–987.
- Kiecolt-Glaser J.K., Derry H.M., Fagundes C.P., (2015), “Inflammation: depression fans the flames and feasts on the heat”, American Journal of Psychiatry, 172(11), pp. 1075–1091.
- Bistas K.G., Tabet J.P., (2023), “The Benefits of Prebiotics and Probiotics on Mental Health”, Cureus, 15(8), pp. 1–8.
- Peluso M.A., Glahn D.C., Matsuo K., et al., (2009), “Amygdala hyperactivation in untreated depressed individuals”, Psychiatry Research, 173(2), pp. 158–161.
- Pinto-Sanchez M.I., Hall G.B., Ghajar K., et al., (2017), “Probiotic Bifidobacterium longum NCC3001 Reduces Depression Scores and Alters Brain Activity: A Pilot Study in Patients With Irritable Bowel Syndrome”, Gastroenterology, 153(2), pp. 448–459.
- Dantzer R., O’Connor J.C., Freund G.G., et al., (2011), “Inflammation-associated depression: from serotonin to kynurenine”, Psychoneuroendocrinology, 36(3), pp. 426–436.
- “Can Melatonin Help with Anxiety? | Baptist Health,” Baptist Health. https://www.baptisthealth.com/blog/behavioral-health/can-melatonin-help-with-anxiety
- R. N. M. Crna, “What to know about GABA,” Jul. 26, 2024. https://www.medicalnewstoday.com/articles/326847#medical-uses
- Takayanagi Y., Onaka T., (2021), “Roles of Oxytocin in Stress Responses, Allostasis and Resilience”, International Journal of Molecular Sciences, 23(1), pp. 1–14.
- World Health Organization, “Introduction,” WHO Recommendation on Routes of Oxytocin Administration for the Prevention of Postpartum Haemorrhage After Vaginal Birth – NCBI Bookshelf, 2020. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK564752/
- Del Toro-Barbosa M., Hurtado-Romero A., Garcia-Amezquita L.E., et al., (2020), “Psychobiotics: Mechanisms of Action, Evaluation Methods and Effectiveness in Applications with Food Products”, Nutrients, 12(12), pp. 3896–3896.
- Rahmannia M., Poudineh M., Mirzaei R., et al., (2024), “Strain-specific effects of probiotics on depression and anxiety: a meta-analysis”, Gut Pathogens, 16, pp. 1–12.
- Cuciureanu M.D., Vink R., (2011), “Magnesium and stress”, Magnesium in the Central Nervous System, pp. 1–15.
- “VITAMIN A: Overview, uses, side effects, precautions, interactions, dosing and reviews.” https://www.webmd.com/vitamins/ai/ingredientmono-964/vitamin-a
Quang Sang, Đoàn Thị Hương

